Logo đối tác

Đối tác tiêu biểu
Công ty Luật QTC:
VIETTEL
Tổng Công Ty Viễn Thông Quân Ðội
VPBANK
Ngân Hàng Thuong Mại Cổ Phần Các Doanh Nghiệp Ngoài Quốc Doanh Việt Nam
VIETCOMBANK
Ngân Hàng Ngoại Thuong Việt Nam
VFF
Liên Ðoàn Bóng Ðá Việt Nam
MoFA
Cục Phục Vụ Ngoại Giao, Bộ Ngoại Giao Viêt Nam
MOJ
Vụ Pháp Luật Quốc Tế, Bộ Tư Pháp
VINACAFE
Tổng Công Ty Cà Phê Việt Nam
CIEM
Viện Nghiên Cứu Quản Lý Kinh Tế Trung Ương
Minh Trung Co., Ltd
Công ty TNHH Minh Trung
Toàn Mỹ
Công ty Cổ phần Năng lượng Toàn Mỹ
VENTURE MAIAYS@ VN FOOD JS Co.
Công ty Cổ Phần bánh kẹo Maiays@ Việt Nam food
Thanh Phong Co., Ltd
Công ty TNHH Thanh Phong
Google Map

 

Tin mới nhất

Tin đọc nhiều

Các loại công tác phí dành cho cán bộ, công chức tăng từ 01/7/2017

Các loại công tác phí dành cho cán bộ, công chức tăng từ 01/7/2017

Theo Thông tư 40/2017/TT-BTC về công tác phí, chế độ chi hội nghị dành cho công chức, viên chức thì những loại công tác phí sau đây tăng từ 01/7/2017:

* Mức phụ cấp lưu trú

- Mức phụ cấp lưu trú để trả cho người đi công tác: 200.000 đồng/ngày. (trước đây 150.000 đồng/ngày)

- Mức phụ cấp lưu trú trong trường hợp được cử đi công tác làm nhiệm vụ trên biển, đảo: 250.000 đồng/ngày (trước đây là 200.000 đồng/ngày)

* Tiền thuê phòng nghỉ tại nơi công tác

- Đối với lãnh đạo cấp Bộ trưởng, Thứ trưởng và các chứ danh lãnh đạo có hệ số phụ cấp chức vụ từ 1.25 trở lên: 1 triệu đồng/ngày/người, không phân biệt nơi đến công tác (trước đây là 900.000 đồng/ngày/người)

- Đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động còn lại:

+ Đi công tác ở quận, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương và thành phố là đô thị loại I thuộc tỉnh, mức khoán: 450.000 đồng/ngày/người (trước đây là 350.000 đồng/ngày/người)

 

Thủ tướng vừa ban hành Công văn 771/TTg-KGVX chỉ đạo các bộ, ngành có liên quan trong việc thực hiện bảo đảm an toàn thực phẩm (ATTP).

Thủ tướng vừa ban hành Công văn 771/TTg-KGVX chỉ đạo các bộ, ngành có liên quan trong việc thực hiện bảo đảm an toàn thực phẩm (ATTP).

Theo đó, có nhiều nội dung đáng chú ý, như là:

- Yêu cầu Bộ Y tế: Chậm nhất tháng 11/2017, trình Chính phủ Dự thảo Nghị định sửa đổi Nghị định 178/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về ATTP theo hướng tăng mức phạt, bảo đảm tính răn đe.

- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phải thực hiện nhiệm vụ sau:

+ Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật về khuyến khích phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ sản xuất sản phẩm sạch, an toàn;

+ Khuyến khích đầu tư sản xuất, chế biến thực phẩm với quy mô lớn theo chuỗi, bảo đảm ATTP;

+ Đổi mới công nghệ sản xuất, chế biến thực phẩm, xây dựng thương hiệu, phát triển hệ thống cung cấp thực phẩm an toàn;

+ Thúc đẩy việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng, ATTP tiên tiến như VietGap, GMP, HACCP, ISO22000...

+ Kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật, thuốc thú y, phân bón, thức ăn chăn nuôi trong sản xuất nông lâm thủy sản.

Xem thêm tại Công văn 771/TTg-KGVX ngày 04/6/2017.

 

Tiếp tục miễn thị thực có thời hạn với công dân 05 nước

Tiếp tục miễn thị thực có thời hạn với công dân 05 nước
Đây là nội dung nổi bật được đề cập tại Nghị quyết 46/NQ-CP ngày 09/6/2017 phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 5/2017. Theo đó:

Gia hạn 01 năm từ ngày 01/7/2017 đến hết 30/6/2018 việc miễn thị thực cho công dân các nước Anh, Pháp, Đức, Tây Ban Nha, I-ta-li-a khi nhập cảnh VN với thời hạn tạm trú không quá 15 ngày kể từ ngày nhập cảnh.

Ngoài ra, Nghị quyết còn đề cập đến một số nội dung khác, như là:

- Thực hiện chính sách miễn học phí đối với giáo dục mầm non cho trẻ em 05 tuổi ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn từ năm 2018;

- Yêu cầu Bộ Giao thông vận tải chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án giao thông trọng điểm như dự án sân bay Long Thành, dự án mở rộng sân bay Tân Sơn Nhất;

- Yêu cầu Bộ Tài chính siết chặt kỷ luật, tăng cường quản lý và điều hành tài chính - ngân sách nhà nước chống thất thu thuế, nhất là đối với hộ kinh doanh cá thể.

Nghị quyết 46/NQ-CP có hiệu lực kể từ ngày ký.

 

Hướng dẫn công bố bản án, quyết định trên Cổng TTĐT.

Hướng dẫn công bố bản án, quyết định trên Cổng TTĐT.

Vừa qua, Tòa án nhân dân tối cao ban hành Công văn 144/TANDTC-PC hướng dẫn thi hành Nghị Quyết 03/2017/NQ-HĐTP về việc công bố bản án, quyết định trên cổng thông tin điện tử (cổng TTĐT).

Theo đó, để đảm bảo hiểu đúng Nghị quyết 03/2017/NQ-HĐTP khi thi hành, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số vấn đề sau:

- Bản án, quyết định được công bố trên Cổng TTĐT phải là bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật; những bản án, quyết định bị kháng cáo, kháng nghị (toàn bộ hoặc một phần) thì không được công bố.

- Việc mã hóa thông tin trong bản án, quyết định của tòa án phải sử dụng các chữ cái trong bảng chữ cái tiếng Việt (A, B, C…), có thể kết hợp với số tự nhiên (1, 2, 3...) trong những trường hợp cần thiết.

- Đối với những người tham gia tố tụng có vai trò quan trọng trong vụ án thì mã hóa tên cá nhân, pháp nhân, cơ quan, tổ chức nên sử dụng ký tự đầu tiên trong tên của cá nhân, pháp nhân, cơ quan, tổ chức đó.

Ví dụ: Bị cáo Nguyễn Văn An được mã hóa thành “Nguyễn Văn A”.

Xem thêm chi tiết tại Công văn 144/TANDTC-PC ngày 04/7/2017

 

Bộ Tư pháp không còn cập nhật cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC

Bộ Tư pháp không còn cập nhật cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC
Nghị quyết 49/NQ-CPngày 13/6/2017 của Chính phủ về sửa đổi một số điều có liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính (TTHC), cải cách TTHC và cơ chế một cửa, một cửa liên thông.

Cụ thể, Bộ Tư pháp không còn trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương rà soát, cập nhật cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC, bảo đảm kết nối liên thông với Cổng dịch vụ công Quốc gia.

Theo đó, nhiệm vụ nêu trên sẽ được chuyển giao cho Văn phòng Chính phủ thực hiện.

Đồng thời, Nghị quyết 49/NQ-CP cũng bổ sung nhiều nhiệm vụ khác cho Văn phòng Chính phủ, như là:

- Tiếp nhận xử lý phản ánh, kiến nghị về quy định hành chính và tình hình kết quả giải quyết TTHC tại các cấp chính quyền.

- Đẩy mạnh triển khai thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin trong cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại các cơ quan hành chính nhà nước.

Nghị quyết 49/NQ-CP bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày ban hành.

 

Từ ngày 01/7 trả tự do ngay khi hết thời hạn tạm giữ, tạm giam

Từ ngày 01/7 trả tự do ngay khi hết thời hạn tạm giữ, tạm giam (Kiemsat.vn) - Những năm gần đây bắt, tạm giữ, tạm giam là vấn đề thu hút sự chú ý của nhiều cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và đông đảo quần chúng nhân dân. Việc bắt, tạm giữ, tạm giam người không có căn cứ, không có lệnh, quyết định theo quy định của luật đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.Trong thực tế, đôi lúc, đôi khi việc để quá hạn tạm giữ, tạm giam vẫn còn xảy ra ở một số nơi, do vậy, một số quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân bị ảnh hưởng, không được bảo vệ, một số hoạt động tố tụng có thể ảnh hưởng trực tiếp đến quyền tự do, quyền bất khả xâm phạm về thân thể của người bị bắt, tạm giữ, tạm giam. Nhằm bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, BLHS và BLTTHS năm 2015 đã có các nội dung sửa đổi, bổ sung lớn liên quan đến việc bắt, tạm giữ, tạm giam. Để kịp thời thực hiện các nội dung mới nêu trên, vừa qua, VKSNDTC đã có văn bản số 2307/VKSTC-V8 yêu cầu VKSND và VKSQS các cấp thực hiện ngay một số công việc sau:

Một là, các đơn vị thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử các vụ án hình sự phối hợp chặt chẽ với Cơ quan điều tra, Tòa án cùng cấp rà soát đầy đủ, chính xác các bị can, bị cáo đang bị tạm giam theo thời hạn quy định của BLTTHS năm 2003 nhưng đến ngày 01/7/2016 không được tạm giam theo thời hạn quy định của BLTTHS năm 2015 hoặc thời hạn tạm giam vượt quá thời hạn theo quy định của BLTTHS năm 2015 để đề nghị Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền (nếu vụ án đang ở giai đoạn điều tra, truy tố) hoặc yêu cầu Chánh án, Phó Chánh án Tòa án có thẩm quyền (nếu vụ án đang ở giai đoạn xét xử) quyết định hủy bỏ biện pháp tạm giam đang áp dụng hoặc thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Kể từ ngày 01/7/2016, nếu có bị can, bị cáo chưa được hủy bỏ biện pháp tạm giam đang áp dụng hoặc chưa được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác theo hướng dẫn này thì VKSND các cấp phải tổng hợp danh sách, gửi về VKSND tối cao (Vụ 8) và Viện kiểm sát quân sự các cấp phải tổng hợp danh sách, gửi về Viện kiểm sát quân sự Trung ương (Phòng 4) để xem xét, giải quyết.

Hai là, kể từ ngày 01/7/2016, các đơn vị thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra các vụ án hình sự phải kiểm sát chặt chẽ các căn cứ và thời hạn áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam theo các quy định mới của BLTTHS năm 2015. Trường hợp xét thấy việc bắt, tạm giữ, tạm giam không có căn cứ hoặc không cần thiết theo quy định của BLTTHS năm 2015; hoặc trong trường hợp Viện kiểm sát yêu cầu Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra bổ sung chứng cứ, tài liệu để xem xét việc phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, phê chuẩn lệnh tạm giam theo quy định tại Khoản 5 Điều 119 và Khoản 3 Điều 179 BLTTHS năm 2015 nhưng cơ quan này không bổ sung được chứng cứ, tài liệu làm căn cứ cho việc phê chuẩn thì Viện kiểm sát thực hiện thẩm quyền theo quy định của BLTTHS để ra quyết định hủy bỏ hoặc quyết định không phê chuẩn lệnh, quyết định và yêu cầu Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trả tự do ngay cho người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam. Đối với các lệnh, quyết định bắt, tạm giam của Tòa án thì các đơn vị thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử các vụ án hình sự phải kiểm sát chặt chẽ các căn cứ và thời hạn áp dụng biện pháp này. Trường hợp xét thấy việc bắt, tạm giam không có căn cứ hoặc không cần thiết theo quy định của BLTTHS năm 2015 thì Viện kiểm sát thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị Tòa án theo quy định của BLTTHS.

Ba là, kể từ ngày 01/7/2016, trong quá trình áp dụng các biện pháp tạm giữ, tạm giam, các đơn vị thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra, kiểm sát xét xử các vụ án hình sự phải thường xuyên kiểm sát về thời hạn áp dụng các biện pháp này để kịp thời hủy bỏ hoặc thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác (nếu vụ án ở giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố) hoặc yêu cầu Tòa án hủy bỏ hoặc thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác (nếu vụ án ở giai đoạn xét xử) khi hết thời hạn luật định.

Bốn là, đơn vị kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam phải kiểm sát chặt chẽ số người đang bị tạm giữ, tạm giam gần hết thời hạn và việc thông báo bằng văn bản của cơ sở giam giữ cho cơ quan đang thụ lý vụ án 01 ngày trước khi hết thời hạn tạm giữ, gia hạn tạm giữ, 05 ngày trước khi hết thời hạn tạm giam, 10 ngày trước khi hết thời hạn gia hạn tạm giam và yêu cầu cơ quan đang thụ lý vụ án giải quyết theo đúng quy định của pháp luật. Trường hợp phát hiện cơ sở giam giữ không thông báo hoặc thông báo không đúng quy định này thì lập ngay biên bản vi phạm và kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu cơ sở giam giữ thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.

Đơn vị kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam tăng cường công tác kiểm sát, phối hợp chặt chẽ với các đơn vị thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử để giải quyết những trường hợp đang bị tạm giữ, tạm giam sắp hết thời hạn giam, giữ trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử đã được cơ sở giam giữ thông báo gần hết thời hạn, nhằm chấm dứt ngay việc quá hạn tạm giữ, tạm giam.

Đối với những trường hợp quá hạn tạm giữ, tạm giam do chậm gửi các lệnh, quyết định tạm giữ, tạm giam, đơn vị kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam cần xác định rõ nguyên nhân, trách nhiệm của cơ quan, cá nhân; tùy theo tính chất, mức độ vi phạm để kháng nghị, kiến nghị yêu cầu xử lý vi phạm.

Kể từ ngày 01/7/2016, khi đã hết thời hạn tạm giữ, tạm giam thì người bị tạm giữ, tạm giam phải được trả tự do ngay, nếu họ không bị giam, giữ về một hành vi vi phạm pháp luật khác. Trường hợp xét thấy cần thiết thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng áp dụng biện pháp ngăn chặn khác.

Trong trường hợp lệnh, quyết định tạm giữ; lệnh, quyết định tạm giam ghi rõ: “Hết thời hạn tạm giữ, tạm giam này, cơ sở giam giữ có trách nhiệm trả tự do cho người bị tạm giữ, tạm giam nếu họ không bị giam giữ về hành vi vi phạm pháp luật khác”; thì đến ngày cuối cùng của thời hạn tạm giữ, tạm giam theo quy định của BLTTHS, đơn vị kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam phải tiến hành kiểm sát, nếu cơ sở giam giữ không trả tự do thì ra văn bản yêu cầu cơ sở giam giữ trả tự do ngay cho người đang bị tạm giữ, tạm giam. Trong văn bản yêu cầu nêu rõ: Cơ sở giam giữ không trả tự do ngay cho người đang bị tạm giữ, tạm giam là vi phạm pháp luật và chịu hoàn toàn trách nhiệm với những hậu quả có thể xảy ra.

Tăng cường công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam nhằm kịp thời phát hiện các trường hợp tạm giữ, tạm giam không có căn cứ và trái pháp luật. Nếu phát hiện việc tạm giữ, tạm giam không có căn cứ và trái pháp luật, đơn vị kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam phải: Tiến hành lập biên bản vi phạm, đồng thời, báo cáo và tham mưu cho Viện trưởng VKSND cùng cấp quyết định trả tự do ngay cho người bị tạm giữ, tạm giam; gửi báo cáo ngay về VKSND tối cao (Vụ 8) để quản lý, chỉ đạo thống nhất; kháng nghị, kiến nghị cơ quan đang thụ lý vụ án, cơ sở giam giữ (nếu có vi phạm), đồng thời thông báo cho Cơ quan điều tra VKSND tối cao hoặc Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự Trung ương xem xét, xử lý đối với cá nhân có liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật.

Năm là, kể từ ngày 01/7/2016, khi nhận được khiếu nại, tố cáo liên quan đến hành vi giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố thì các đơn vị kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo giải quyết ngay trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được khiếu nại, tố cáo. Trường hợp cần phải có thời gian để xác minh thêm thì thời hạn giải quyết không được quá 03 ngày (khoản 1 Điều 474 và khoản 4 Điều 481 BLTTHS năm 2015). Đối với khiếu nại, tố cáo liên quan đến quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam, đơn vị kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam phải giải quyết theo thời hạn quy định tại Điều 50 và khoản 2 Điều 60 Luật thi hành tạm giữ, tạm giam. Trình tự, thủ tục, thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo được thực hiện theo Chương XXXIII BLTTHS năm 2015, Chương IX Luật thi hành tạm giữ, tạm giam và Quy chế tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp ban hành kèm theo Quyết định số 51/QĐ-VKSTC-V12 ngày 02/02/2016 của Viện trưởng VKSND tối cao.

Trong quá trình xác minh, giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến hành vi giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam hoặc trong quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam nếu thấy có dấu hiệu tội phạm, phải thông báo, chuyển đơn và tài liệu, chứng cứ liên quan đến Cơ quan điều tra VKSND tối cao (nếu thuộc thẩm quyền của VKSND); đến Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự Trung ương (nếu thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát quân sự) để xem xét, giải quyết.

Cơ quan điều tra VKSND tối cao, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự Trung ương có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết kịp thời tất cả các tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố liên quan đến hành vi giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam; quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam trong phạm vi thẩm quyền của mình. Thống kê, tổng hợp đầy đủ số liệu tiếp nhận, giải quyết các tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố liên quan đến hành vi giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam; quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam để kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật.

Viện trưởng VKSNDTC yêu cầu Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự Trung ương, Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc VKSNDTC, Viện trưởng VKSND cấp cao, Viện trưởng VKSND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức triển khai, quán triệt trong cơ quan, đơn vị mình để bảo đảm thi hành đúng, đầy đủ các nội dung sửa đổi, bổ sung lớn liên quan đến việc bắt, tạm giữ, tạm giam trong BLHS năm 2015, BLTTHS năm 2015, Nghị quyết số 110/2015/QH13, Nghị quyết số 109/2015/QH13 của Quốc hội về việc thi hành BLHS năm 2015, BLTTHS năm 2015 và Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam. Đồng thời, giao Vụ 8 VKSNDTC tổng hợp khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện báo cáo Lãnh đạo VKSNDTC chỉ đạo, hướng dẫn./.

 

(Theo Kiểm Sát)

 

Tiếp tục miễn thị thực có thời hạn với công dân 05 nước

Tiếp tục miễn thị thực có thời hạn với công dân 05 nước
Đây là nội dung nổi bật được đề cập tại Nghị quyết 46/NQ-CP ngày 09/6/2017 phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 5/2017. Theo đó:

Gia hạn 01 năm từ ngày 01/7/2017 đến hết 30/6/2018 việc miễn thị thực cho công dân các nước Anh, Pháp, Đức, Tây Ban Nha, I-ta-li-a khi nhập cảnh VN với thời hạn tạm trú không quá 15 ngày kể từ ngày nhập cảnh.

Ngoài ra, Nghị quyết còn đề cập đến một số nội dung khác, như là:

- Thực hiện chính sách miễn học phí đối với giáo dục mầm non cho trẻ em 05 tuổi ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn từ năm 2018;

- Yêu cầu Bộ Giao thông vận tải chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án giao thông trọng điểm như dự án sân bay Long Thành, dự án mở rộng sân bay Tân Sơn Nhất;

- Yêu cầu Bộ Tài chính siết chặt kỷ luật, tăng cường quản lý và điều hành tài chính - ngân sách nhà nước chống thất thu thuế, nhất là đối với hộ kinh doanh cá thể.

Nghị quyết 46/NQ-CP có hiệu lực kể từ ngày ký.

 
Hỗ trợ trực tuyến
  • Tư vấn pháp luật
    lawyer.hanoi
  • Tư vấn Hình Sự
    linhqtc
  • Tư vấn Dân sự
    lawyer.hanoi
  • Tư vấn doanh nghiệp
    thanhqtc91
  • Tư vấn Lao động
    linhqtc
  • Tư vấn đất đai
    thanhqtc91
  • Tư vấn thể thao
    thanhqtc91
  • Hôn nhân - gia đình
    linhqtc

  • Hotline: 0936780088
All Videos Reloaded3

Giá vàng
ĐVT: tr.đ/lượng
Loại Mua Bán
Loại Mua Bán
SBJ 45,080 45,230

SBJ 46,200 46,400

Tỷ giá
USD 21.011
GBP 34.591
HKD 2.776
CHF 23.850
JPY 275.94
AUD 22.295
CAD 21.256
SGD 16.959
EUR 29.651
NZD 17.188
Bat Thái Lan 805
Lượt người truy cập
001658337
Ngày hôm nay506
Ngày hôm qua494
Tuần này1000
Tháng này1000
Tất cả các ngày1658337
Guests 16