Logo partner








Typical Partners
QTC Law Firm:
VIETTEL
Telecommunications Corporation Army
VPBANK
Joint Stock Commercial Bank of China Business enterprises outside Vietnam
VIETCOMBANK
Vietnam Bank for Foreign Trade
VFF
Vietnam Football Federation
MoFA
Diplomatic Service Bureau, Ministry of Foreign Affairs of Viet Nam
MOJ
The Department for International Law, Department of Justice
VINACAFE
Coffee Corporation Vietnam
CIEM
Research Institute of Central Economic Management
Minh Trung Co., LTD.
Minh Trung Co., Ltd
Toàn Mỹ
Energy Corporation toan my
VENTURE MAIAYS@ VN FOOD JS Co.
Confectionery Joint Stock Company Vietnam food Maiays @
Thanh Phong Co., Ltd
Thanh Phong Co., Ltd.
Google Map

 

Latest News

Popular

Phân biệt miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt

vi

Trong khoa học pháp lý và thực tiễn việc phân biệt sự khác nhau giữa miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt là cần thiết và có ý nghĩa quan trọng.

Chế định miễn trách nhiệm hình sự là hủy bỏ hậu quả pháp lýcủa việc thực hiện tội phạm khi có các căn cứ do pháp luật hình sự quy định, tức là các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền của nhà nước (cơ quan Điều tra với sự phê chuẩn của Viện kiểm sát, Viện kiểm sát và Tòa án) căn cứ vào giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng cụ thể để miễn trách nhiệm hình sự cho người phạm tội.

Chế định miễn hình phạt là ở chỗ - Tòa án không quyết định hình phạt trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật đối với người bị coi là có lỗi trong việc thực hiện tội phạm, tức là không áp dụng đối với người này biện pháp cưỡng chế về hình sự nghiêm khắc nhất khi có đầy đủ căn cứ pháp lý và những điều kiện được quy định trong pháp luật hình sự.

Về bản chất pháp lý, các đặc điểm cơ bản và những trường hợp miễn trách nhiệm hình sự (quy định tại Điều 19, Điều 15, khoản 2 Điều 69, khoản 3 Điều 80, đoạn 2 khoản 6 Điều 289, khoản 6 Điều 290 và khoản 3 Điều 314) và miễn hình phạt (quy định tại Điều 54 và khoản 3 Điều 314) vì đã được đề cập trong các bài viết liên quan đến hai chế định nói trên nên trong bài viết này chỉ tập trung đi sâu phân tích các điểm giống và khác nhau cơ bản giữa chúng theo hệ thống như sau.

 

Hình ảnh Phân biệt miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt số 1

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

 

Về các điểm giống nhau

Miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt đều thuộc hệ thống các biện pháp tha miễn trong luật hình sự nước ta, thể hiện rõnguyên tắc nhân đạo trong chính sách hình sự nói chung và của luật hình sự Việt Nam nói riêng.

Miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt chỉ có thể áp dụng đối với người nào bị coi là có lỗi trong việc thực hiện chính tội phạm đó.

Miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt chỉ có thể áp dụng khi có đầy đủ căn cứ pháp lý và những điều kiện cụ thể do pháp luật hình sự quy định tương ứng trong từng trường hợp cụ thể.

Cũng như người được miễn trách nhiệm hình sự, người được miễn hình phạt không phạt chịu hậu quả pháp lý bất lợi của việc phạm tội hoặc (và) của việc quyết định hình phạt - án tích.

Cũng như việc miễn trách nhiệm hình sự, bằng các quy phạm có tính chất nhân đạo của chế định miễn hình phạt, nhà làm luật không phải dùng các biện pháp mang tính trấn áp (trừng trị) về mặt hình sự và do đó, sẽ loại trừ được việc áp dụng hình phạt trong những trường hợp mặc dù hình phạt có được Tòa án quyết định đi chăng nữa nhưng trên thực tế là bất hợp lý vì các mục đích của nó không thể đạt được.

Và cuối cùng, với việc áp dụng miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt, Nhà nước không cách ly khỏi xã hội những người bị coi là có lỗi trong việc thực hiện tội phạm và như vậy, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho họ sớm thích nghi với các yêu cầu của trật tự pháp luật để trở lại cuộc sống bình thường trong cộng đồng xã hội, phấn đấu làm người lương thiện và có ích cho gia đình và xã hội.

Về các điểm khác nhau:

Nếu BLHS năm 1999 hiện hành của nước ta có quy định chín trường hợp (dạng) miễn trách nhiệm hình sự, thì các trường hợp miễn hình phạt trong Bộ luật này chỉ được ghi nhận tại hai điều luật mà thôi.

Trách nhiệm hình sự có thể được thực hiện bằng hình phạt (nếu người phạm tội không được miễn trách nhiệm hình sự, mà bị Tòa án áp dụng hình phạt), nhưng cũng có thể bằng biện pháp có tính cưỡng chế về hình sự khác (nếu người phạm tội được miễn hình phạt). Còn miễn trách nhiệm hình sự thì đương nhiên là không áp dụng hình phạt với người phạm tội, tức là không áp dụng biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của nhà nước đối với họ, nhưng miễn hình phạt thì không có nghĩa là không có trách nhiệm hình sự. Nói một cách khác, người được miễn hình phạt khi họ chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự, còn người được miễn trách nhiệm hình sự lại đương nhiên được miễn hình phạt.

 

Hình ảnh Phân biệt miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt số 2

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

 

Khác với miễn trách nhiệm hình sự, điều kiện được miễn hình phạt áp dụng đối với từng trường hợp cụ thể không được quy định rõ ràng như miễn trách nhiệm hình sự. Theo quy định tại Điều 54 BLHS năm 1999 thì các điều kiện để miễn hình phạt không khắt khe (chặt chẽ) bằng các điều kiện để miễn trách nhiệm hình sự. Do đó, dưới góc độ pháp luật hình sự thực định và thực tiễn áp dụng nó, chúng ta có thể nhận thấy hành vi phạm tội và nhân thân người được miễn trách nhiệm hình sự thông thường đều ít nguy hiểm hơn so với hành vi phạm tội và nhân thân của người được miễn hình phạt. Nói một cách khác, hành vi phạm tội vànhân thân người được miễn hình phạt nguy hiểm hơn so với hành vi phạm tội và nhân thân người được miễn trách nhiệm hình sự.

Nếu hình phạt và việc áp dụng miễn hình phạt đối với người bị kết án chỉ có thể và phải do một cơ quan duy nhất áp dụng - Tòa án, thì trong khi đó miễn trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, ngoài Tòa án có thẩm quyền áp dụng ra còn có thể do các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền (cơ quan điều tra với sự phê chuẩn của Viện kiểm sát, Viện kiểm sát) áp dụng trước khi xét xử tùy thuộc vào giai đoạn tố tụng hình sự cụ thể tương ứng.

 

Hình ảnh Phân biệt miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt số 3

 

Và cuối cùng, nếu người được miễn trách nhiệm hình sự đương nhiên không phải chịu hậu quả pháp lý hình sự bất lợi của việc phạm tội do mình thực hiện (như: không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, không phải chịu hình phạt hoặc biện pháp cưỡng chế về hình sự khác, không bị coi là có án tích và không bị coi là có tội), nhưng thực tiễn xét xử cho thấy, người được miễn trách nhiệm hình sự vẫn có thể phải chịu một hoặc nhiều biện pháp tác động về mặt pháp lý thuộc các ngành luật tương ứng khác. Cụ thể là: các biện pháp ngăn chặn theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự; buộc phải hồi phục lại tình trạng ban đầu, buộc bồi thường thiệt hại… theo quy định của pháp luật dân sự; phạt tiền, cảnh cáo hoặc buộc thôi việc theo quy định của pháp luật hành chính; đình chỉ hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật lao động; hoặc biện pháp kỷ luật… Để minh chứng điều này có thể dẫn ra văn bản hướng dẫn thống nhất có tính chất chỉ đạo của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tại Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 5/1/1986 về việc Hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS: “Khi đã miễn trách nhiệm hình sự thì Tòa án không được quyết định bất kỳ loại hình phạt nào nhưng vẫn có thể quyết định việc bồi thường cho người bị hại và giải quyết tang vật”. Trong khi đó, người được miễn hình phạt tuy đương nhiên được xóa án tích (khoản 1 Điều 64 BLHS năm 1999), nhưng họ vẫn có thể bị áp dụng các biện pháp tư pháp (chung) được quy định trong pháp luật hình sự thực định (các Điều 41 - 43 BLHS năm 1999).

 

Hình ảnh Phân biệt miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt số 4

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)


Xuất phát từ phân biệt hai chế định nói trên trong BLHS năm 1999 hiện hành, có thể rút ra một số kết luận chung dưới đây.

Thứ nhất, miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt là hai chế định quan trọng thể hiện nguyên tắc nhân đạo trong chính sách hình sự nói chung, trong luật hình sự Việt Nam nói riêng. Hai chế định này chỉ có thể áp dụng khi có đầy đủ các căn cứ pháp lý và những điều kiện cụ thể do pháp luật hình sự quy định.

Thứ hai, việc quy định trong pháp luật hình sự Việt Nam hai chế định này thể hiện phương châm đúng đắn của đường lối xử lý về hình sự - đảm bảo sự kết hợp hài hòa giữa các biện pháp cưỡng chế hình sự nghiêm khắc nhất của nhà nước với các biện pháp tác động xã hội khác để cải tạo, giáo dục người phạm tội, bằng cách đó hạn chế áp dụng các biện pháp mang tính trấn áp (trừng trị) về mặt hình sự.

Thứ ba, trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay để nhân đạo hóa hơn nữa chính sách hình sự nói chung và luật hình sự nước ta nói riêng, dưới góc độ nhận thức - khoa học, nhà làm luật cần điều chỉnh hai chế định độc lập này thành hai chương riêng biệt tương ứng trong BLHS năm 1999 hiện hành, với sự ghi nhận bổ sung thêm một số trường hợp thường có trong thực tiễn3 có thể áp dụng hai chế định này.

Và cuối cùng, việc tiếp tục nghiên cứu về mặt lý luận chế định miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt để phân biệt chúng có ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn thiện pháp luật hình sự, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, góp phần đấu tranh phòng và chống tội phạm.

 

 

Nguồn : Người đưa tin
 

Revised Law on Courts: Why term of office of judges should be extended

vi

Dinh Thanh Phuong, LL.M
Nguyen Thi Hang Diem Mi
Law Faculty, Can Tho University

The Politburo’s Resolution No. 49/NQ-TW of June 2, 2005, on the Judicial Reform Strategy through 2020, affirms that adjudication is central to judicial activities. The efficiency and effectiveness of adjudication are the most convincing reflection of those of judicial activities. Judges assume the central role in adjudication. The Law on Organization of People’s Courts is currently under revision to be compliant with the new Constitution and to meet the requirements of the judicial reform. Improving the quality of adjudication activities of judges is now an issue of high concern. To achieve this goal, in addition to upholding professional qualification requirements, the improvement of legal provisions on judges is quite necessary. Along with selection and appointment criteria, current regulations on judges’ term of office have a significant impact on the quality of their adjudication activities.

emoticon
Presiding judge Nguyen Quang Vinh opens the court hearing for the land-related murder attempt case in Tien Lang district, Hai Phong city __Photo: Doan Tan/VNA


 

Current role, position and term of office of judges

According to Article 3 of the 2002 Law on Organization of People’s Courts and Article 1 of the 2002 Ordinance on Judges and Assessors of People’s Courts (amended in 2011), judges are those appointed in accordance with law to conduct adjudication and perform other jobs under court jurisdiction.

Judges hold a central and irreplaceable position in adjudication activities. Presiding over court hearings, judges are always the central actor in the adjudicative process. All proceedings at a court hearing are started and ended by judges. Whether the steps of the adjudicative process are taken in due course or are closely interconnected depends on judges’ skills of administering a court hearing. As the conductor of a court hearing, a judge would ensure that procedure participants properly comply with regulations on their rights and obligations in finding the truth of the case.

Judges and assessors make up a trial panel, which is competent to make the final ruling over a case. However, unlike assessors, judges’ role in a trial panel is irreplaceable. For example, in the criminal procedure, the presence of assessors is compulsory only at first-instance court hearings[1]. At appellate court hearings, assessors would be present only when necessary[2]. In the civil procedure, assessors attend only first-instance court hearings, while appellate court hearings are conducted by judges only[3].

Pursuant to current law, the term of office of a judge is five years from the date of his appointment[4]. This provision has a positive significance to judges’ competence and performance. The limited term of office of judges is a key motivation that drives them to keep learning and improving their professional qualifications and capabilities, improving and preserving their moral qualities, and fulfilling their adjudicative mandate in order to be reappointed for another term[5]. Given such short term, the opportunity for reappointment would not be guaranteed if a judge fails to train himself and gain more practical experiences. The term of office of judges is therefore in place to remind them of focusing on their adjudication quality and limiting mistakes. In the meantime, it also serves as a basis for removing incompetent and irresponsible judges.

Necessity to extend judges’ term of office

Beside its advantages as mentioned above, judges’ fixed term of office also shows irrationalities and causes negative consequences to individual judges and adjudication activities of courts. In revising the Law on Organization of People’s Courts, the National Assembly should take into consideration the extension of judges’ term of office and a possible step further toward lifetime appointment. The extension would help address the limitations of the current five-year limit and, with some reasonable adjustments, make judges able to serve better. Furthermore, longer or life terms of office for judges would bring about positive changes in adjudication activities.

Rationale for extension of judges’ term of office

Firstly, under current law, when their term of office expires judges would be reappointed if selected by the Judge Selection Council. On the contrary, if not selected, they would not be reappointed and have to transfer to other positions or other professions. In fact, judges would be automatically reappointed as long as they make no professional mistakes. The Supreme People’s Court’s Department of Organization and Personnel has so far based itself on the percentage of judgments quashed and corrected as an important criterion for review and consideration of judge reappointment[6]. Generally, judges would not be reappointed only when they are physically unfit for their job, fail to fulfill their duty, morally and politically unqualified, professionally incompetent, and especially have an excessive percentage of their judgments quashed or corrected. Otherwise, judges would remain in office for the rest of their working life.

In case life terms apply, a judge is still subject to removal from office if he “is physically unfit for the job, fails to fulfill the duty, morally and politically unqualified, professionally incompetent, and has an excessive percentage of judgments quashed or corrected”.

Either way, as the reasons for a judge to continue his/her job do not differ, the selection of judges for reappointment is exactly the same as the consideration and evaluation for removal from office of judges.

Secondly, adjudication is a unique job in the procedural process. In the name of the State, a judge tells right from wrong and rules a person guilty or not. This job thus requires high competence and firm experience and skills. To prepare themselves for the job, judges need time to accumulate practical experience, improve their professional capabilities and moral qualities. Therefore, definite terms of office for judges are not needed.

In addition, based on relevant regulations and taking into consideration their professional title, it can be asserted that judges are civil servants rather than cadres. According to Clause 1, Article 4 of the 2008 Law on Cadres and Civil Servants, a cadre is a person elected, approved or appointed to hold a post or title for a definite term of office. The Law does not specify any terms of office for civil servants. Article 7 of Government Decree No. 06/2010/ND-CP of January 25, 2010, defines judges as civil servants in the system of people’s courts and holders of a professional title rather than a termed post. A regulation on definite terms of office for civil servants who are judges would lead to an unequal treatment among civil servants. Why can other civil servants, for instance, experts of People’s Committees’ offices, be sure of their seats for life, while judges cannot?

The above analysis has demonstrated that the regulation on a definite term of office for judges does not make any sense because term-based appointments and lifetime appointments are the same, and the application of a definite term of office to judges as civil servants is incompliant with the law on cadres and civil servants.

The regulation on a definite term of office for judges has even in some cases had negative consequences that seriously affect the objective and fair adjudication by courts.

Independence of judges

Independent trial is a principle of utmost importance that decides whether or not a judgment is objective, against a right person and for a right crime. An independent judge is expected to conduct trial in an objective and impartial manner without being influenced, induced, coerced, threatened or intervened by any entity. The current application of a definite term of office makes judges very difficult to stick to this principle. Specifically, the five-year term is resulting in a reality that judges are not fully dedicated to ensuring the objectivity and independence of courts. In fact, judges would do anything, especially “lobbying” among persons from other organizations who are members of the Judge Selection Council, for their reappointment. This means that judges are influenced by those persons who vote to select them and cannot maintain their independence in trial under such influence. This is the reason for the current provision that judges must be subject to appointment instead of election as previously provided in Article 129 of the 1980 Constitution. The appointment of judges is made by an individual rather than a collective. Specifically, the President appoints judges of the Supreme People’s Court and the Chief Justice of the Supreme People’s Court appoints judges of local courts. However, the present term-based appointment of judges has created “a dependency of judges on members of the Judge Selection Council, especially at the times of appointment and reappointment. Many legal experts and judges have pointed out that the five-year term is too short to ensure the independence of judges because rather than adjudicating justly and obeying the law only a judge might behave in a way that is most favorable for his reappointment.

Problem of bribery

As analyzed above, when a judge’s five-year term comes to an end with no mistake recorded, he will be reappointed. This creates an opportunity for persons with the competence to reappoint judges to ask for bribes. This reality has resulted in serious consequences such as consolidation of personal power, offering of bribes for the purpose of getting reappointed, and likelihood of judges to become professionally weaker and morally degraded.

Benefits of extended term of office

We find it necessary to extend the term of office of judges to 10 or 20 years, or even lifetime. The extension would at the same time help address shortcomings and bring about positive changes such as more independent judges, fewer bribes, better use of judges’ adjudicative experience, time and money saved from less frequent reappointments.

With extended terms or life term, judges can avoid the concern of whether they would get reappointed and get rid of influence from outside, and would be able to conduct trial in an impartial and objective manner and obey the law only. Moreover, even when enjoying life terms, judges could be removed if they make mistakes. Therefore, judges need only to continue developing their professional capabilities, skills and moral qualities to live up to their title. An extended term of office would ensure independent trial and provide a solution to the present situation that certain judgments should be reported for approval.

Bribery will be inhibited once reappointment of judges is no longer necessary.

Taking advantage of judges’ adjudicative experience is another great benefit of a longer or life term of judges. Adjudication requires high professional qualifications but experience also matters. The more experienced a judge is, the better he is[7]. As social relations have become increasingly complicated and laws cannot anticipate all possible circumstances, judges need experience more than ever to make the fairest judgments. Adjudication sometimes requires judges to be flexible and innovative rather than sticking to the letter of the law. Longer practice of adjudication brings more experience and therefore, a longer term of office would take better advantage of judges’ experience.

Some have argued that the extension of judges’ term of office might discourage judges from looking for further training and improving their qualifications. At the same time, it might close opportunities for younger and talent persons to pursue this career. A change in the term-based appointment of judges may solve the problem of time pressure but it is necessary to introduce a mechanism to force judges to keep learning and improving themselves. Because there are three ranks of judge title, namely Supreme People’s Court judge, intermediate judge, and primary judge, judges should be required to satisfy some certain conditions in order to move up to higher ranks within a given period of time. This would be a motivation that drives judges to continue learning and improving themselves.

The extension of judges’ term of office will also save time and money spent on complicated steps in the reappointment decision-making process, including assessing the satisfaction of standards, moral and political qualities, professional capabilities of judges, and review the quality of their adjudication reflected by the number of cases settled, number of judgments quashed, number of cases in which suspended sentence has been improperly applied, etc...[8].-



[1] The 2003 Criminal Procedure Code, Article 185.

[2] The 2003 Criminal Procedure Code, Article 244. This provision is now applicable only to provincial-level people’s courts, it is impossible for assessors to be present at appellate court hearings held by the Supreme People’s Court because Clause 3, Article 18 of the 2002 Law on Organization of People’s Courts prescribes that the Supreme People’s Court has no assessors.

[3] The 2004 Civil Procedure Code (revised in 2011), Articles 52 and 53.

[4] The 2002 Law on Organization of People’s Courts, Article 40, and the 2002 Ordinance on Judges and Assessors of People’s Courts.

[5] Pham Quy Ty, Reforming the organization and operation of people’s courts, Review of Legislative Studies, issue 7, 2005, pp. 22-27.

[6] Nguyen Quang Loc, discussing the application of percentages of judgments quashed and corrected in the emulation and commendation work of people’s courts, the Supreme People’s Court, http://www.toaan.gov.vn/.

[7] This is the reason why the Supreme People’s Court has suggested a longer period of time in service for judges in Article 64 of the draft amended Law on Organization of People’s Courts.

[8] The Supreme People’s Court’s Official Letter No. 71/TCCB of February 25, 2014, on requests for appointment and reappointment of intermediate and primary judges.

 

Law on Notarization

vi

Effective on January 1 next year, the Notarization Law (the Law) provides notaries, notarial practice organizations, notarial practice, notarization procedures and state management of notarization.

Compared to the current Notarization Law enacted in 2006, the Law contains many new provisions.

Notarial practice organizations

To ensure the quality of notarization activities, the Law establishes a principle that the establishment of notarial practice organizations must comply with this Law and the Prime Minister’s master plan on development of notarial practice organizations.   

The Law provides two forms of notarial practice organizations as currently prescribed, including notary bureaus and notary offices.

According to Article 18, notary bureaus may be established only in geographical areas where conditions for development of notary offices are not available. Notary bureaus will be established under decisions of provincial-level People’s Committees as public non-business units attached to provincial-level Justice Departments. When it is no longer necessary to maintain a notary bureau, the provincial-level Justice Department will submit a plan for transformation of the notary bureau into a notary office to the provincial-level People’s Committee for decision. If a notary bureau cannot be transformed into a notary office, the provincial-level Justice Department will submit a plan for dissolution of the notary bureau to the provincial-level People’s Committee for decision.

Notary offices will be organized and operate in the form of partnerships in accordance with the Law and other relevant regulations. As partnerships, they must have no capital contributors. A notary office must have at least 2 notaries being its partners. Within 24 months after the effective date of the Law, notary offices established by single notaries under the 2006 Law must be converted into notary offices organized and operating under the Law. Compared to the 2006 Law, the Law adds provisions on change of partners of notary offices. Under Article 27, a notary being a partner of a notary office may terminate his partnership status at his own will or in other cases prescribed by law. A notary office may admit new partners if its current partners accept them.

Notarial practice

Three forms of notarial practice are specified in Article 34, including: notaries of notary bureaus; notaries being partners of notary offices; and notaries working under labor contracts for notary offices.

Under the Law, the Justice Minister will appoint notaries to conduct notarial practice. Provincial-level Justice Departments will register notarial practice for and grant notary’s cards to notaries. Notarial practice organizations must purchase professional liability insurance for their notaries. Those established before the effective date of the Law must purchase professional liability insurance for their notaries within 90 days after the Law takes effect.

Notary practice organizations will pay compensation for damage caused to notarization requesters and other organizations and individuals due to faults of their notaries or employees or interpreters being their collaborators in the process of notarization. These persons will indemnify the compensation amounts to their notary practice organizations. If they fail to do so, the notary practice organizations may bring their disputes to court.

Notarization charges and remuneration and other expenses are clearly specified in the Law. Accordingly, the tariffs, collection, payment, use and management of notarization charges must comply with law. For notarization remuneration, provincial-level People’s Committees will promulgate ceiling rates to be applied to notarial practice organizations in localities. Notarial practice organizations may fix remuneration rates for each job which must not exceed the ceiling rate and post them up at their head offices. Notarization requesters and notarial practice organizations may agree on other expenses according to the principles posted up at these organizations.

Notarization procedures

The Law devotes Chapter V to providing notarization procedures. Besides general procedures, the Law stipulates specific procedures for notarization of real estate mortgage contracts, authorization contracts, testaments, written agreements on division of estate, written declarations for acceptance of estate or written disclaimers of estate, custody of testaments and notarizations of translations.

For real estate contracts and transactions, notaries may only notarize these contracts and transactions within the province where their notarial practice organization is located, excluding testaments or written disclaimers of real estate and letters of authorization related to the exercise of real estate-related rights. Real estate mortgage contracts must be notarized at a notarial practice organization located in the province where the real estate is located.

 

Overseas diplomatic mission and consulates of Vietnam may notarize testaments, written disclaimers of estate, letters of authorization and other contracts and transactions, excluding contracts on purchase and sale, conversion, transfer, donation, lease, mortgage or capital contribution of real estate in Vietnam.-

 

Cháu' của 'ông chú ở Viettel' đối diện với mức án nào?

vi

Lợi dụng sự nhẹ dạ, cả tin và thiếu hiểu biết của một số người, một số đối tượng đã dùng mạng xã hội để lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Khi bị phát hiện, mức án dành cho các đối tượng sẽ như thế nào?

Phóng viên có cuộc phỏng vấn ngắn Luật sư Nguyễn Việt Hùng, Trưởng văn phòng Luật sư Kinh Đô về các tình huống pháp lý mà các đối tượng này có thể phải đối mặt.

'Cháu' của 'ông chú ở Viettel' đối diện với mức án nào? - Ảnh 1

Luật sư Nguyễn Việt Hùng - Trưởng văn phòng Luật sư Kinh Đô


Thưa ông, vừa qua PC50 bộ công an đã bắt được một số đối tượng, có hành vilừa đảo hàng chục triệu đồng qua mạng xã hội. Với những hành vi đó, các đối tượng sẽ phải chịu mức án nào?

Đây là trường hợp các đối tượng đã lợi dụng sự nhẹ dạ, cả tin và thiếu hiểu biết của một số người nên đã sử dụng công nghệ cao là thông qua mạng xã hội, internet để thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 139 Bộ luật Hình sự. Đây là trường hợp phạm tội đối với nhiều người và phạm tội nhiều lần, có tính chất chuyên nghiệp.

Trong trường hợp này, với những thông tin ban đầu như đã nêu thì số tiền ban đầu chỉ tạm được xác định là 30 triệu đồng, nhưng ta chưa xác định rõ được số tiền mà những đối tượng này đã chiếm đoạt, số bị hại bị chiếm đoạt,… đến khi kết thúc điều tra cụ thể là bao nhiêu, nên khó có thể đưa ra một quan điểm chính xác về hình phạt tù sẽ được áp dụng.

Tuy nhiên, có thể nhận định rằng tối thiểu thì cũng phải áp dụng khoản 2 Điều 139 BLHS với mức hình phạt từ 2 đến 7 năm tù. Nhưng nếu các đối tượng gây hậu quả rất nghiêm trọng, chiếm đoạt từ 200 triệu đến dưới 500 triệu thì sẽ bị áp dụng theo khoản 3 điều 139 với mức hình phạt từ 7 ăm đến 15 năm tù; Nếu gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng và tổng giá trị chiếm đoạt trên 500 triệu đồng thì có thể bị xem xét ở khoản 4 Điều 139 với khung hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc chung thân.

Ngoài ra, nếu Công ty Viễn thông bị lợi dụng thương hiệu, tên tuổi của mình chứng minh được những tổn thất do hành vi của các đối tượng gây ra thì các đối tượng này không những phải bồi thường thiệt hại cho những người bị hại mà còn phải bồi thường thiệt hại cho chính Công ty Viễn thông đã bị các đối tượng trên lợi dụng tên tuổi để lừa đảo.

Xin cảm ơn ông!

Theo nguoiduatin.vn

 

Right to silence under hot debate

vi

The right to silence was brought up for the first time at a session of the National Assembly Standing Committee, immediately triggering wide debate on the issue as prevention and control of injustices and protection of human rights and citizens’ rights of suspects are growing into a major public concern.

Speaking at the National Assembly Standing Committee’s meeting last month to discuss the draft revisions of the Law on Organization of People’s Procuracies and the Law on Organization of People’s Courts, National Assembly Chairman Nguyen Sinh Hung stressed the need for a detainee or defendant to remain silent until his lawyer is present to avoid coercion and torture. 

emoticon

 

 

This content, however, has not been included in the revised draft of the Law on Organization of People’s Courts, displeasing the National Assembly chairman who asked for materialization of the Constitution into the revised draft, including guarantee of defendants’ rights and assurance of equality in adversarial proceedings.

Explaining about the absence of this issue in the draft law, Procurator General of the Supreme People’s Procuracy Nguyen Hoa Binh said opinions about the issue were divergent. Although this right was supported by lawyers, it was not backed by investigation agencies for fear of obstructing the investigation process, Binh said, stressing the need to harmonize the adversarial right and state power.

Investigation agencies held that prompt interrogation of detainees, particularly in cases of dangerous or organized crimes, would facilitate investigation as until a lawyer came, other accomplices might all run away.

Careful preparations must be made before enforcing this right, Lieutenant General Trieu Van Dat, deputy general director of the Crime Prevention and Control Bureau under the Ministry of Public Security, told online service Infonet,saying democracy beyond the country’s level of development might cause serious consequences.

Although agreeing with recognition of the right to silence of the accused, an experienced investigator said this was not the right time to apply it given currently few people could afford inviting a lawyer while procedures for lawyers to participate in procedural activities remained very complicated.

Judge of Bac Ninh province’s Criminal Tribunal Vu Cong Dong told online service VnExpress that once applied, the right to silence would put the burden to invite lawyers on the shoulders of investigation agencies in case defendants could not afford a lawyer. The requirement for presence of lawyers at all questioning sessions was unfeasible, the judge said.

But most lawyers agreed the right to silence should be enforced to ensure human rights and prevent torture which might lead to unjust punishment for detainees and defendants.

In an article published on the Tuoi Tre (Youth) daily, lawyer Nguyen Van Hau, vice president of the Ho Chi Minh City Lawyer Association, voiced his support for the legalization of the right to silence.

In his opinion, this right should be recognized to ensure the country’s implementation of treaties to which it is a contracting party, including the 1966 International Covenant on Civil and Political Rights and the 1984 Convention against Torture and Other Cruel, Inhuman or Degrading Treatment or Punishment. Also, as a member of the United Nations Human Rights Council, Vietnam needs to enact regulations on human rights and establish mechanisms to ensure strict enforcement of these regulations.

Lawyer Hau stressed the need to legalize the right to silence to enforce the right of detainees, arrestees, the accused and defendants to presumption of innocence and the right to defense.

According to him, this was to materialize the 2013 Constitution under which a person who is arrested, held in custody, temporarily detained, charged with a criminal offence, investigated, prosecuted or brought to trial has the right to defend himself or herself in person or find a defense counsel or another person to defend him or her.

The responsibility to prove offences rested with procedure-conducting agencies while the accused or defendants have the right but do not have the obligation to prove their innocence under the Criminal Procedure Code, he said.

Also under this Code, within three days from the date of receiving a lawyer’s request, the investigation agency, procuracy or court must consider and grant a defense counsel certificate for this lawyer to conduct defense or notify him of the reason for refusing to grant such certificate.

But in reality, lawyers could hardly participate in the very first stage of cases to protect the rights and interests of their clients, Hau stressed, pointing to numerous difficulties facing a lawyer in obtaining a defense counsel certificate for participating in questioning sessions. In most cases, lawyers could involve only when it came to the stage of investigation completion or prosecution by the procuracy.

Sharing this point, lawyer Dang Van Cuong from the Hanoi Bar Association said lawyers’ right to participate in the stage of arrest was not guaranteed in reality. Under the Ministry of Public Security’s Circular No. 70 of 2011, a lawyer can participate in a case only when an arrestee himself writes an invitation to the lawyer or writes a request to his family to invite the lawyer. This was hardly feasible in practice as the arrestee, often in a state of panic, did not know to invite whom as well as how to send the invitation while the investigation agency might refuse to grant a defense counsel certificate once there was information that the arrestee did not invite a lawyer, Cuong told online serviceBaomoi.com, adding unfortunately, it was not that easy to verify this information.

A lawyer who was “lucky” enough to participate in the very first stage of investigation still found it hard to execute his defense right as investigators might question the arrestee at any time in the absence of the lawyer as this was not prohibited by law, Cuong pointed out, saying the presence of lawyers in many cases was just formalistic as testimonies were already made in other interrogation sessions.

Lawyer Hau also believed recognition of the right to silence would help prevent unjust judgment and coercion, torture and other violations which have recently increased given investigators’ tendency to value testimonies rather than evidence. Hau was confident that lawyers’ participation in the very first stage would help clarify the case, protect rights and interests of the detainees and supervise the conduct of procedures without obstructing investigation activities as often believed by investigators.

Permission for suspects to remain silent and provide answers only in the presence of their lawyers would be a remarkable change in procedural activities, former chairman of the National Assembly’s Legal Committee Vu Duc Khien told VnExpress, believing this would immediately stop coercion and torture.

He cited a case of denunciation in which an investigator smoked when interrogating a suspect being a smoke addict, asking the suspect to plead guilty in order to be allowed to smoke. Such coercion would be avoided if lawyers were present when suspects were questioned, Khien said.

Procurator of the People’s Procuracy of District 3, Ho Chi Minh City, Nguyen Van Chung acknowledged valuation of testimonies rather than evidence remained a common practice in criminal procedure activities. Investigation agencies tended to feel secured only when the accused themselves admitted their offenses even though evidence was available, Chung was quoted by the Tuoi Tre as saying.

Vice chairwoman of the National Assembly’s Justice Committee Le Thi Nga also agreed investigators, prosecutors and judges attached much importance to admissions of guilt. The accused who were concluded under judgments to lack honesty and reject offenses, thus obstructing the investigation, prosecution and trial processes, were likely to be exposed to higher punishment even though failure to give testimonies or truthful testimonies was not regarded as an aggravating circumstance, she told the Tuoi Tre.

Judge of Criminal Tribunal of Ho Chi Minh City People’s Court Nguyen Minh Canh told VnExpress permission for a person to keep silent when arrested to wait for his lawyer was good not only for him but also for the investigation, prosecution and trial process while the role of lawyers was heightened in the procedural process.

The right to silence, which has been applied in many countries, is the right of the accused or defendant to refuse to make a comment or an answer when questioned in the absence of his/her lawyer to avoid self-incrimination.- (VLLF)

 

Bàn về hình phạt "cải tạo không giam giữ" và chế định "án treo" được quy định trong bộ luật hình sự Việt Nam

vi

Trong pháp luật Việt Nam hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội. Nhà nước đặt ra hình phạt nhưng hình phạt đó phải tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi do người phạm tội thực hiện.Tính chất, mức độ của hành vi phạm tội phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Nhân thân người phạm tội, quan hệ xã hội bị xâm phạm, thiệt hại đã gây ra hoặc đe dọa gây ra cho xã hội, ý thức chủ quan của người phạm tội. Bộ luật hình sự Việt Nam quy định hệ thống hình phạt chính bao gồm: Cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, trục xuất, tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình; các loại hình phạt đó được sắp xếp theo trật tự tăng dần về mức độ nghiêm khắc, thể hiện chính sách hình sự của Nhà nước ta là kết hợp giáo dục, thuyết phục với cưỡng chế, trấn áp.

Theo đó, hình phạt “Cải tạo không giam giữ”được coi là nhẹ hơn hình phạt tù. Hình phạt cải tạo không giam giữ được áp dụng từ sáu tháng đến ba năm đối với người phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng, có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú rõ ràng, nếu xét thấy không cần thiết phải cách ly người phạm tội ra khỏi xã hội. Tòa án giao người bị phạt cải tạo không giam giữ cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó thường trú để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó (Điều 31 BLHS). Còn “Án treo” là chế định pháp lý hình sự liên quan đến việc chấp hành hình phạt tù được quy định tại Điều 60 Bộ luật hình sự. Án treo được hiểu là việc miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện: Khi xử phạt tù không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm. Trong thời gian thử thách, Tòa án giao người được hưởng án treo cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó thường trú để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó.

Giữa “Án treo” và “Cải tạo không giam giữ” có sự khác nhau, tuy nhiên xét bản chất của “Án treo” và “Cải tạo không giam giữ” giống nhau ở chỗ: Người thụ án không phải cách ly khỏi xã hội mà họ được chung sống với gia đình như những người khác dưới sự giám sát của cơ quan, tổ chức hoặc chính quyền địa phương nơi người đó làm việc hoặc cư trú.

Mặc dù, giống nhau về bản chất trong việc giáo dục và quản lý người bị kết án nhưng thực tiễn áp dụng hình phạt “Cải tạo không giam giữ” hay áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng “Án treo” đối với người phạm tội còn có những bất cập nhất định. Nguyên nhân là do trong các quy định của pháp luật hình sự hiện hành không có quy định về điều kiện nhân thân của bị cáo để được áp dụng hình phạt “Cải tạo không giam giữ”, nhưng lại có quy định điều kiện về nhân thân của bị cáo để được áp dụng chế định “Án treo”. Tại điểm b mục 6.1 Nghị quyết số 01 ngày 02/10/2007 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao quy định về điều kiện nhân thân của bị cáo để được áp dụng chế định “Án treo” đòi hỏi bị cáo phải có nhân thân tốt: Có nhân thân tốt được chứng minh là ngoài lần phạm tội này họ luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân; chưa có tiền án, tiền sự; có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú cụ thể, rõ ràng.

Vì không có sự hướng dẫn về điều kiện nhân thân của bị cáo để được áp dụng hình phạt “Cải tạo không giam giữ” nên thực tiễn xét xử dẫn đến tình trạng:

Bị cáo có nhân thân xấu (không đủ điều kiện để được hưởng án treo), với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra cho xã hội xét về mặt pháp lý cần phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là phù hợp. Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau (yếu tố chủ quan) nên cơ quan có thẩm quyền muốn “bị cáokhông phải cách ly khỏi xã hội mà họ được chung sống với gia đình như những người khác dưới sự giám sát của cơ quan, tổ chức hoặc chính quyền địa phương nơi người đó làm việc hoặc cư trú”. Để đạt được điều này, cơ quan có thẩm quyền đã không áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo (vì nếu áp dụng hình phạt tù trong trường hợp này sẽ không áp dụng được Điều 60 BLHS để cho bị cáo hưởng án treo do bị cáo có nhân thân xấu) mà áp dụng hình phạt “Cải tạo không giam giữ” đối với bị cáo. Trường hợp này, nếu so sánh bị cáo được áp dụng hình phạt “Cải tạo không giam giữ” với thực tiễn các bị cáo khác đã từng bị xét xử về cùng tội phạm, có cùng tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ nhưng có nhân thân tốt (đủ điều kiện để được hưởng án treo) nhưng vẫn bị xử phạt hình phạt tù giam là không công bằng.

Thực trạng này đang tồn tại tương đối phổ biến trong hoạt động xét xử, dẫn đến thiếu công bằng khi xử lý về hình sự đối với những người phạm tội (bị cáo có nhân thân xấu được xử lý nhẹ hơn bị cáo có nhân thân tốt); không phù hợp với nguyên tắc áp dụng hình phạt, mục đích của hình phạt. Hình phạt không chỉ để trừng trị người phạm tội mà còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm (Điều 27 BLHS).

* Đơn cử về vụ án Nguyễn Văn A  bị Toà án nhân dân huyện K xử phạt 24 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” thể hiện được sự bất cập như đã nêu ở trên. Vụ án này, sau khi xét xử sơ thẩm VKSND tỉnh Q nhận thấy: Để xảy ra tai nạn lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo (điều khiển xe mô tô trên đoạn đường không bị che khuất tầm nhìn, bị cáo không giảm tốc độ khi gặp chướng ngại vật, không tránh xe về phần đường mà bị cáo được phép lưu thông, xử lý tình huống kém), hậu quả làm 01 người chết, gây thiệt hại về tài sản, bị cáo có 01 tiền án và để phục vụ tình hình chính trị địa phương đối với tội phạm về giao thông đường bộ xảy ra tại huyện K nói riêng, trên địa bàn tỉnh Q nói chung...nên đã kháng nghị phúc thẩm theo hướng áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo A nhưng Hội đồng xét xử phúc thẩm bác kháng nghị và tuyên y án sơ thẩm.

Rõ ràng, trong vụ án này việc chấp nhận hoặc không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát phụ thuộc nhiều vào ý chí chủ quan của những thành viên Hội đồng xét xử, vì còn tồn tại những bất cập về mặt pháp luật như: Về thực tiễn xét xử loại tội phạm này tại tỉnh Q cho thấy có nhiều bị cáo phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” có cùng tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ giống bị cáo A nhưng có nhân thân tốt vẫn phải chịu hình phạt tù giam (mặc dù bị cáo có đầy đủ điều kiện để áp dụng Điều 60 BLHS về án treo); trong khi bị cáo A có nhân thân xấu lại được áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, như vậy là không công bằng, thiếu thống nhất trong quyết định hình phạt. Nhưng do pháp luật không quy định về điều kiện nhân thân của bị cáo để được áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ theo Điều 31 BLHS nên không có cơ sở pháp lý để bảo vệ kháng nghị.

Với những bất cập nêu trên thiết nghĩ các nhà làm luật, các cơ quan liên ngành tố tụng trung ương cần nghiên cứu, xem xét về vấn đề này để có những hướng dẫn cụ thể, rõ ràng và phù hợp nhất; bảo đảm sự nghiêm minh, công bằng hơn khi lượng hình và quyết định hình phạt đối với người phạm tội.

Theo tôi, vì giữa “Án treo” và “Cải tạo không giam giữ” đều giống nhau là: Người thụ án không phải cách ly khỏi xã hội mà họ được chung sống với gia đình như những người khác dưới sự giám sát của cơ quan, tổ chức hoặc chính quyền địa phương nơi người đó làm việc hoặc cư trú. Tuy nhiên, “Án treo” là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, quy định về thời gian thử thách - trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo phạm tội mới thì phải chuyển hình phạt tù giam nên nặng hơn hình phạt “Cải tạo không giam giữ”, vì vậy thiết nghĩ cần phải đưa ra những điều kiện để được áp dụng hình phạt “Cải tạo không giam giữ” khắt khe hơn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ thể hiện tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội ít hơn so với “Án treo”.

Nguyễn Thị Vân

Theo http://vksquangnam.gov.vn/

 

Luật gia thắng kiện 55 tỷ đồng: 'Lời hứa và lòng tham'!

vi

Sáu năm đi tìm công lý lại bị... “rút ván”

Liên quan đến vụ việc này, như đã từng nhiều lần phản ánh quá trình khiếu nại đòi nhà và những khuất tất liên quan đến cán bộ, lãnh đạo ngân hàng ACB. Cặp biệt thự song lập nêu trên nguyên thuộc sở hữu của bà Vương Thị Khanh và ông Nguyễn Đắc Kha. Năm 1980, gia đình bà Khanh sang Pháp và ủy quyền cho ông Phan Bình quản lý. Ông Phan Bình ở một phần nhỏ và cho ngân hàng ACB thuê làm hội sở. Năm 1999 UBND TP.HCM xác lập quyền sở hữu Nhà nước đối với căn nhà này. Khi biết UBND TP.HCM thu hồi căn nhà nói trên, bà Vương Thị Khanh và ông Phan Bình đã khiếu nại nhiều nơi nhưng không được xem xét giải quyết.

Đến năm 2007, bà Khanh và con trai là anh Quang đã nhờ ông Đặng Đình Thịnh giúp đỡ và hai bên ký kết hợp đồng hứa thưởng với mức hứa thưởng cho ông Thịnh lúc đầu là 15% trên tổng giá trị nhà và đất đòi lại được. Nội dung công việc là ông Thịnh (thay mặt bà Khanh) liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền khiếu nại, chứng minh các cơ sở pháp lý để đòi lại nhà cho gia đình bà.

Ông Thịnh đã củng cố hồ sơ pháp lý vụ việc, làm việc với các cơ quan chức năng để chứng minh căn cứ pháp lý về việc đòi lại căn nhà. Tuy nhiên, đến cuối năm 2007, UBND TP.HCM vẫn bác đơn khiếu nại.

Luật gia thắng kiện 55 tỷ đồng: 'Lời hứa và lòng tham'! - Ảnh 1

Phiên tòa xét xử vụ hứa thưởng liên quan tới căn nhà 446 – 448 NTMK, phường 5, quận 3, TP.HCM.

Theo ông Thịnh, nhiều lúc ông đã muốn bỏ cuộc vì nản công việc càng ngày càng khó khăn, phức tạp, tốn rất nhiều thời gian, công sức, trí tuệ... Biết rõ công việc rất phức tạp, khó khăn, gia đình bà Khanh đã động viên ông Thịnh rất nhiều. Lúc đó, bà Khanh và con trai tự nguyện tăng mức hứa thưởng lên là 35% trên tổng giá trị nhà đất đòi lại được.

Sau nhiều năm khiếu nại, cuối cùng vụ việc cũng có kết quả. Cân nhắc xem xét toàn diện các khía cạnh pháp lý của vụ việc, Chính phủ và các bộ, ngành đã thống nhất trả lại nhà cho bà Vương Thị Khanh do ông Đặng Đình Thịnh đại diện. Tuy nhiên, sau khi Nhà nước trả lại nhà thì bà Khanh và anh Quang lại... “quên” cam kết “hứa thưởng” trước đó. Thậm chí, họ còn tìm đủ mọi cách thoái thác trách nhiệm và tẩu tán số tài sản nói trên.

Anh Quang còn lợi dụng các văn bản ủy quyền của bà Khanh và các quyết định của Nhà nước về việc trả nhà để khai di sản gian dối, mua bán bất hợp pháp căn nhà trên với bà Đặng Thu Hà, cán bộ ngân hàng ACB nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả thưởng cho ông Thịnh.

Cực chẳng đã, ông Thịnh buộc phải khởi kiện ra tòa. Sau khi xem xét, HĐXX nhận định: Yêu cầu của ông Thịnh không những “không vi phạm pháp luật hay trái với đạo đức xã hội” mà có căn cứ pháp lý và được chấp nhận, buộc ông Quang và bà Khanh phải trả số tiền gần 55 tỉ đồng, tương đương 35% tổng giá trị tài sản tại số 446 – 448 theo định giá Nhà nước (trên 156 tỉ đồng).

Luật gia Diệu Vân – người bảo vệ quyền lợi cho ông Thịnh cho biết: “Bản án cơ bản đã bảo vệ được sự công bằng nhưng chúng tôi vẫn sẽ xem xét việc kháng cáo vì giá trị nhà đất theo định giá khá thấp so với giá trị thật, không đảm bảo quyền lợi của các bên đương sự và quan hệ hứa thưởng cần phải được tách ra giải quyết ở cấp phúc thẩm để đảm bảo đúng pháp luật”.

Lãnh đạo ngân hàng ACB bị tố lừa đảo chiếm đoạt tài sản?

Cũng liên quan tới vụ việc này, vào năm 2010, anh Quang, đại diện ủy quyền của bà Khanh, đã ký hợp đồng cam kết bán căn nhà này cho ông Vũ Huy Hoàng (ngụ Q.3) và nhận tiền cọc trên 21 tỉ đồng. Khi đã có quyết định trả nhà,  anh Quang trốn tránh và không thực hiện theo hợp đồng như đã ký với ông Hoàng. Tiếp đó, ngày 13/10/2011, anh Quang ký một hợp đồng viết tay (không có công chứng) cho ACB, do ông Đỗ Minh Toàn làm đại diện (hiện là Tổng Giám đốc ngân hàng ACB) thuê với thời hạn 50 năm. Tòa án cũng nhận định đây là hợp đồng không có căn cứ pháp lý và buộc ngân hàng ACB phải trả ngay nhà cho gia đình bà Khanh.

Một ngày sau, anh Quang lại tiếp tục ký hợp đồng mua bán nhà (viết tay) với bà Đặng Thu Hà (hiện là Giám đốc Kinh doanh vàng và ngoại hối, một cổ đông lớn của ACB và dì ruột của Chủ tịch HĐQT ngân hàng ACB Trần Hùng Huy) với giá 250 tỉ đồng. Điều đáng nói căn nhà này đang tranh chấp bởi nhiều bên có mối quan hệ và quyền lợi xung đột lẫn nhau và  khi đó, TAND TP.HCM đã có quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Điều đáng nói là khi anh Quang ký hợp đồng mua bán với bà Hà, căn nhà này chưa được hợp thức hóa. Trước đó, bà Khanh và các đồng thừa kế khác cũng đã gửi thông báo hủy ủy quyền đối với anh Quang.

Trao đổi với PV, ông Hoàng chia sẻ: “Tại thời điểm ký hợp đồng, bà Hà là cán bộ ngân hàng ACB (bên đang thuê) hiển nhiên biết căn nhà đang bị phong tỏa để giải quyết vụ án giữa ông Thịnh và bà Khanh nhưng vẫn cố tình cấu kết với anh Quang ký các hợp đồng giả tạo để chiếm đoạt tài sản của tôi. Tại sao một cán bộ ngân hàng lại ký thỏa thuận mua bán viết tay, đặt cọc trước 210 tỉ đồng (hơn 80% giá mua nhà) khi căn nhà đang bị tranh chấp và chưa đầy đủ tính pháp lý? Bà Hà là người có nhận thức pháp luật cao, có chức vụ và hoạt động lâu năm trong lĩnh vực ngân hàng, tại sao lại cố ý tiếp tay làm trái pháp luật? Âm mưu của họ là gì? Việc giao nhận 210 tỉ đồng phải chăng chỉ là sự ngụy tạo để âm mưu chiếm đoạt tài sản của tôi?”.

Theo dõi sát sao vụ việc này, luật sư Nguyễn Văn Hậu - Phó Chủ nhiệm đoàn Luật sư TP.HCM cũng cho rằng, việc ông Thịnh thay mặt gia đình bà Khanh đi khiếu nại đòi nhà và được bà Khanh hứa thưởng là hoàn toàn chính đáng, không vi phạm pháp luật hay trái với đạo đức xã hội và được pháp luật bảo vệ. Việc trả thưởng cho ông Thịnh cần phải được ưu tiên thực hiện theo thỏa thuận giữa hai bên. Theo luật sư Hậu, giao dịch mua bán căn nhà số 446- 448 giữa bà Hà và anh Quang trong thời gian TAND TP.HCM đang áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nêu trên là giao dịch trái pháp luật. Chính vì vậy, căn cứ theo Điều 127, Điều 122 Bộ luật Dân sự 2005, giao dịch mua bán nhà giữa bà Hà và anh Quang là vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật.

Bên cạnh đó, anh Quang cũng không đủ tư cách pháp lý để ký kết hợp đồng chuyển nhượng căn nhà trên vì anh này chỉ là một đồng sở hữu của căn nhà. Hơn nữa, tại thời điểm ký kết, anh Quang cũng không được bà Khanh ủy quyền bán nhà cho bà Hà vì nhà chưa được hợp thức hóa. Trong trường hợp này, căn cứ theo Điều 137 Bộ luật Dân sự 2005 thì giao dịch dân sự đó là vô hiệu, nếu có chuyện bà Hà giao tiền cho anh Quang thì anh Quang phải có trách nhiệm hoàn trả lại khoản tiền này cho bà Hà, gia đình bà Khanh không phải chịu trách nhiệm. Do vậy, việc tòa án nhận định các giao dịch trên là vô hiệu do vượt quá ủy quyền là đúng nhưng lại buộc bà Vương Thị Khanh liên đới hoàn trả tiền cho bà Hà là không có cơ sở!

Chia sẻ thêm với PV, ông Hoàng cho rằng: “Đằng sau những giao dịch bằng giấy viết tay của anh Quang với bà Hà cũng như ký hợp đồng cho thuê nhà dài hạn với ông Toàn chắc chắn phải có điều khuất tất. Vì vậy, tôi mong các Cơ quan điều tra hãy vào cuộc làm rõ hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh Quang cũng như ông Toàn và bà Hà là những người cấu kết, tiếp tay. Qua đó, làm sáng tỏ vụ việc, trả lại công bằng cho tôi”. Đây cũng là nội dung đơn tố cáo của ông Hoàng  được gửi ngay tại phiên tòa.

Cần tách riêng quan hệ tranh chấp để giải quyết đúng pháp luật

Phát biểu chính thức tại phiên tòa, kiểm sát viên Hoàng Anh Nga, đại diện VKSND TP.HCM cho rằng: Quan hệ hứa thưởng đã được tòa thụ lý từ lâu và hoàn tất mọi thủ tục tố tụng nên cần được tách ra giải quyết bằng một vụ án độc lập nhằm bảo đảm đúng pháp luật và bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho nguyên đơn. Theo quý viện, các tranh chấp về giao dịch mua bán nhà, thuê nhà… cần được tòa tách ra thành một vụ án riêng và triệu tập đầy đủ các đồng thừa kế là con của bà Khanh để giải quyết vụ án đúng quy định pháp luật.

Lầm tưởng bị phá quán, đánh người đến chết

C.T

 
Online Support
  • Legal counseling
    lawyer.hanoi lawyer.hanoi@yahoo.com
  • Advice Criminal
    tuvanhinhsu.qtclaw qtc.law@hotmail.com
  • Civil Consultants
    lawyer.hanoi lawyer.hanoi@yahoo.com
  • Business Advisory
    tuvandoanhnghiep.qtclaw qtc.law@hotmail.com
  • Land-Consulting Project
    tuvandatdai.qtclaw qtc.law@hotmail.com
  • Labor Consultant
    tuvanlaodong.qtclaw qtc.law@hotmail.com
  • Advice on Marriage & Family
    tuvanhonnhangiadinh.qtclaw qtc.law@hotmail.com
  • Sports Consulting
    tuvanthethao.qtclaw qtc.law@hotmail.com
  • Hotline: 0936780088
All Videos Reloaded3

Giá vàng
ĐVT: tr.đ/lượng
Loại Mua Bán
Loại Mua Bán
SBJ 45,080 45,230

SBJ 46,200 46,400

Tỷ giá
USD 21.011
GBP 34.591
HKD 2.776
CHF 23.850
JPY 275.94
AUD 22.295
CAD 21.256
SGD 16.959
EUR 29.651
NZD 17.188
Bat Thái Lan 805
Counting Visitors
000494243
TodayToday9
YesterdayYesterday45
This WeekThis Week197
This monthThis month275
Guests 1